Samstag, 13. April 2013

Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca - Phần I


"Tâu hoàng thượng, có nhiều nỗi thống khổ trên thế gian này. Với lòng từ mẫn, thiếp thấy tất cả chúng sanh đều nhận chịu khổ đau. Thiếp muốn giúp đỡ nhân loại. Thiếp muốn loại trừ những tư tưởng xấu. Vì vậy, thiếp sẽ không làm ác, thiếp sẽ không nghĩ ác..."




 Lời Nói Đầu
Phật tử chúng ta xưa nay thường học hỏi tu tập theo giáo pháp của Đức Thích-Ca Mâu-Ni nhưng hình như ít khi tìm hiểu cặn kẽ về quá trình tu chứng và giáo hóa của Ngài, phần lớn là vì thiếu tài liệu. Các nhà luận sư học giả hầu như chỉ chú trọng đến việc nghiên cứu và triển khai hệ thống giáo điển chứ ít khi trình bày đầy đủ cuộc đời vị tha vô ngã mà Ngài đã hiến trọn cho nhân thế. Họ thường tóm lược phần tiểu sử Ngài đại khái như:
Đức Phật Thích-Ca tên thật là Tất- đạt- đa, con vua Tịnh-Phạn và hoàng hậu Mađa, sinh ngày trăng tròn tháng vơ xắc, tức tháng 5 trước tây lịch 623 năm, tại vườn Lâm-tỳ-ni, xứ Ca-tỳ-la-vệ, thuộc miền bắc Ấn Độ. Năm 16 tuổi, Ngài kết hôn với công chúa Dađu- đà-La và sinh được một trai đặt tên là La-hầu-Lạ Năm 29 tuổi, sau 3 lần du ngoạn ngoài thành, chứng kiến cảnh sanh già bệnh chết, Ngài quyết định từ bỏ hoàng cung, vào núi Hy-mã-lạp-sơn tu tập. Suốt 6 năm dài tu hành khổ hạnh, Ngài chứng đắc vô thượng bồ đề, tức thành Phật. Sau đó Ngài hóa độ chúng sanh ròng rã trong 45 năm, cuối cùng Ngài đến xứ Câu-thi-na và nhập niết bàn tại đó. Ngài thọ 80 tuổi.

Tác phẩm CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT đây được diễn đạt tương đối đầy đủ, mạch lạc, khúc chiết và đặc biệt là được trình bày dưới dạng truyện dài gồm 3 phần và 58 hồi. Độc giả nhờ thế có thể dễ dàng tìm hiểu nguồn gốc gia đình, nguyên nhân xuất gia, quá trình tu chứng và cuộc đời hóa độ chúng sanh cao quí kỳ diệu của Ngài. Ngài ra đời giữa hoa lá, lớn lên trên nhung lụa, tu hành trong núi rừng, chứng đạo dưới gốc cây, hoằng hóa từ vườn này đến đồi nọ, và rồi cuối cùng, giữa hai cây tha-la, Ngài nhập Niết bàn. Cuộc đời của Ngài là kết tinh của một quá trình thơ mộng và phấn đấu không ngừng cho hạnh nguyện tự giác, giác tha và giác hạnh viên mãn. Ngài dung nhiếp và cứu độ tất cả các loài hữu tình. Ngài dang tay đón nhận tất cả những tâm hồn đau thương khốn nạn. Ngài yêu quí sự sống. Ngài ca ngợi sự sống. Chính vì trái tim từ ái, bao dung, vị tha và bình đẳng của Ngài mà chế độ phân chia giai cấp của xã hội Ấn Độ bấy giờ bị phá vỡ. Uy đức của Ngài như thế nhưng quí vị cũng sẽ thấy nghịch cảnh rợn người trên bước đường tu chứng và vân du hành hóa của Ngài. Ngài nhẫn nhục, chịu đựng và hóa giải tất cả. Đọc CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT chúng ta sẽ thấy lòng dạ của chúng sanh được phơi bày ra nhiều màu nhiều vẻ: cao thượng- đê hèn, nhân từ- độc ác, chân chính-hư vọng, thật thà-man trá... , tất cả đều có đủ trong một con người muôn thưở.

Mục tiêu hóa độ của Đức Phật là Ngài chỉ cho chúng sanh thấy rõ tính giác hằng hữu của mình. Ngài trình bày cho nhân loại thấy đâu là vô minh và đâu là trí tuệ, đâu là khổ đau và đâu là giải thoát. Ngài không phải là đấng quyền năng cứu rỗi. Ngài là bậc Đạo Sư, Ngài hướng dẫn đường tốt cho người, còn đi hay không không phải là lỗi của người dẫn đường. Ngài là vị lương y, bắt bệnh và cho thuốc, còn uống hay không, không phải là lỗi của vị lương ỵ Giáo pháp của ngài do đó có tính cách tự do khai phóng chứ không câu thúc hẹp hòi.

Bản dịch CUỘC ĐỜI ĐỨC PHẬT đây được thành tựu phần nào là nhờ sự khuyến khích và giúp đỡ chân tình của Thầy Phước Sơn. Xin cảm ơn thiện ý và tấm lòng thiết tha vì đạo của Thầy.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Thầy Nguyên Hồng, người đã dành thì giờ đọc đối chiếu bản Anh bản thảo và góp ý cho tôi.

Thật ra, bản dịch Việt ngữ này được dịch từ bản dịch Anh ngữ của Paul C. Blum chứ không phải từ nguyên tác Pháp ngữ của Ạ Ferdinand Herold, do đó khó mà tránh khỏi nạn "tam sao thất bản". Kính mong các bậc tôn đức cao minh, quí vị tinh tấn học đạo chỉ giáo và hỷ xả cho những chỗ còn thiếu sót, chưa chỉnh.

Ngoài ra, người dịch cũng xin mạn phép lược bớt một vài chỗ để cho khí văn được nhẹ hơn.

Ước mong độc giả sẽ cảm nhận được ít nhiều lời hay ý đẹp trong bản dịch này.

Phật Đản 2528-1984
TỊNH MINH

..........................................................................

Thành phố thanh tịnh lộng lẫy nầy chính là nơi mà xưa kia đại ẩn sĩ Ca-tỳ-la (Kapila) cư ngụ. Nó hình như được xây dựng bằng những mảnh trời: tường vách trông như những áng mây bạc trắng, nhà cửa vườn tược tỏa ra màu sắc rực rỡ huy hoàng. Ngọc ngà châu báu lấp lánh khắp nơi. Dân cư trong thành ít biết đến cảnh nghèo khổ tối tăm. Ban đêm, khi ánh trăng vằng vặc soi sáng trên mỗi tháp canh, thành phố nhìn như một ao huệ; ban ngày, khi những dãy nhà nối tiếp tắm mình trong ánh nắng vàng, thành phố trông như một dòng sông đầy sen.

Vua Tịnh-Phạn (Suđhodana) trị vì tại thành Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu); chính nhà vua là sự trang hoàng rực rỡ nhất của kinh thành. Ngài nhân từ; phúc hậu, khiêm tốn và công bình. Ngài đã truy quét những kẻ thù gan dạ nhứt và họ phải quị ngã trước ngài giữa trận chiến như những thớt voi bị thần sấm (Indra) hạ gục. Vẻ huy hoàng rực rỡ của ngài đã khuất phục kẻ ác như tia nắng mặt trời làm tan biến màn đêm. Ngài đã mang ánh sáng đến cho đời và vạch đúng đường cho những ai gần gũi với ngài. Trí tuệ cao quí của ngài đã thu phục được nhiều thân hữu can trường, sáng suốt, và chính sự can trường sáng suốt của họ đã góp phần vào sự huy hoàng của ngài như ánh sao làm tăng thêm độ sáng của mặt trăng vậy.

Tịnh-Phạn, quốc vương của dòng tộc Thích-Ca (Sakya) đã kết hôn với nhiều hoàng hậu. Trong số những hoàng hậu mà ngài yêu quí nhất là Mađa (Maya).

Bà đẹp lắm, đẹp như chính nữ thần Hạnh phúc (Laksmi) lạc vào dương thế. Mỗi khi bà nói, giọng bà ngọt ngào, dễ mến như tiếng chim hót mùa xuân. Tóc bà đen huyền như màu sắc ong bầu, trán bà trắng trong như hạt ngọc kim cương, mắt bà mát rợi như chồi sen xanh biếc, và chưa bao giờ có nếp nhăn nào làm hỏng đôi mày vòng nguyệt sắc sảo của bà.

Bà là người có đức hạnh. Bà mong cầu hạnh phúc cho thần dân. Bà rất quan tâm đến những lời huấn thị chân thành của các bậc tôn sự Bà thật thà. Đức hạnh của bà là tấm gương sáng cho mọi người noi theo.

Vua Tịnh-Phạn và hoàng hậu Mađa sống êm đềm hạnh phúc tại thành Ca-tỳ-la-vệ.

Một hôm, hoàng hậu tắm xong, trang điểm phấn hương, khoác lên người một chiếc áo choàng the rực rỡ, và đeo vào tay nhiều châu báu ngọc ngà; những chiếc vòng vàng chạm nhau kêu leng keng ở hai bên mắt cá, và vừa thấy bóng quốc vương, mặt bà đã sáng lên niềm hạnh phúc.

Tịnh-Phạn ngồi trong một đại điện. Nhạc điệu du dương từ từ trổi lên, nhè nhẹ ru người vào cảnh giới mộng ảo êm đềm. Mađa ngồi về phía bên phải của ngài. Bà lên tiếng tâu:

"Tâu hoàng thượng, xin hoàng thượng lắng nghe, xin hoàng thượng ban cho thiếp một đặc ân, hỡi đấng che chở của địa cầu!"

Tịnh-Phạn đáp: "Nói đi, hoàng hậu của trẫm. Ái khanh muốn đặc ân gì?"

"Tâu hoàng thượng, có nhiều nỗi thống khổ trên thế gian này. Với lòng từ mẫn, thiếp thấy tất cả chúng sanh đều nhận chịu khổ đau. Thiếp muốn giúp đỡ nhân loại. Thiếp muốn loại trừ những tư tưởng xấu. Vì vậy, thiếp sẽ không làm ác, thiếp sẽ không nghĩ ác. Thiếp yêu thương thân thiếp thế nào thì thiếp cũng giúp đỡ và thương yêu kẻ khác thế đó. Thiếp sẽ bỏ tính kiêu ngạo, thiếp sẽ không theo tiếng gọi của dục vọng xấu xạ Thiếp sẽ không bao giờ nói lời đê hèn vô bổ. Từ nay về sau, tâu hoàng thượng, thiếp sẽ sống một cuộc đời khổ hạnh. Thiếp sẽ chay tịnh. Thiếp sẽ không bao giờ có ý xấu hay làm ác; mang phiền não hay hận thù; biết sân hận hay tham lam. Thiếp sẽ hài lòng với số phận của thiếp. Thiếp sẽ từ bỏ tâm gian xảo đố kỵ. Thiếp sẽ trong trắng. Thiếp sẽ đi theo chánh đạo. Thiếp sẽ tu tập đức hạnh. Chính vì thế mà giờ đây mắt thiếp rực lên ánh tươi vui, môi thiếp bừng lên niềm hoan hỷ."

Bà dừng lại giây lát. Quốc vương nhìn bà bằng ánh mắt âu yếm thán phục. Bà tiếp:

"Tâu hoàng thượng, xin hoàng thượng cho thiếp sống đời khổ hạnh. Đừng vào rừng núi âm u của dục vọng, xin cho thiếp sống theo trai giới thánh thiện. Thiếp muốn sửa lại những gian nhà trên tầng tột cùng của cung điện, nơi chim thiên nga thường làm tổ. Xin dọn cho thiếp một chiếc giường con có tẩm hương lót nệm. Thị nữ sẽ giúp thiếp những gì cần yếu, và hoàng thượng có thể thải hồi các quan thái giám, những vệ binh và tất cả các nô bộc khác. Thiếp không muốn nhìn thấy cảnh tượng xấu xa, âm thanh cuồng loạn và mùi vị của những gì khó chịu."

Bà dứt lời, quốc vương đáp:

"Được rồi! Trẫm chấp nhận hạnh nguyện của ái khanh."

Vua hạ lệnh:

"Hãy để cho hoàng hậu rực rỡ trong ánh vàng bạc ngọc ngà, an dưỡng trên một chiếc giường con có cài kết danh hoa với nhạc điệu du dương ngày đêm giao hưởng trên những tầng tột cùng của cung điện mà lúc nào cũng có tiếng chim thiên nga hòa vang theo gió. Thị nữ sẽ túc trực hầu hạ bên cạnh hoàng hậu. Bà sẽ giống như ngọc nữ của chư thiên ở một vườn địa đàng nào đó! "

Hoàng hậu đứng lên. Bà nói: "Tốt lắm! nhưng, hỡi hoàng thượng của thiếp, xin nghe thiếp thưa tiếp. Xin hoàng thượng hãy trả tự do cho tù nhân. Hãy rộng lượng cấp phát y phục vật thực cho người nghèo. Hãy mang lại hạnh phúc cho già trẻ gái trai! Tâu hoàng thượng, hãy mở rộng tình thương và đem nguồn hỷ lạc đến cho nhân thế. Xin hoàng thượng hãy là cha lành của tất cả chúng sanh!"

Bà rời khỏi đại điện và đi thẳng lên đỉnh hoàng cung.

Mùa xuân đã đến, chim chóc vui lượng quanh các tầng lầu, ca hót líu lo rộn rã cành cây. Hoa nở đầy vườn, sen vươn bừng nụ trên khắp mặt hồ. Hoàng hậu đã tìm được nơi an dưỡng với nhịp sáo cung đàn hòa điệu vang vang, một cảnh huy hoàng lộng lẫy khắp kinh thành, huy hoàng lộng lẫy đến nỗi ánh sáng mặt trời cũng phải ngã màu râm mát.
(còn tiếp)

Share

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites